Tài Liệu

Công văn 5189/TCT-CS

Mới đây vào ngày 07/12/2020, Tổng cụ Thuế đã ban hành Công văn 5189/TCT-CS về giới thiệu nội dung mới của Nghị định 126/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật quản lý thuế. Được biết văn bản pháp luật này sẽ có hiệu lực bắt đầu từ ngày được ban hành chính thức. Sau đây, Natu Food sẽ giới thiệu nội dung chi tiết của công văn này, xin mời các bạn cùng tham khảo.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
——–
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——————–
Số: 5189/TCT-CS
V/v giới thiệu các nội dung mới của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế.
Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2020

Công văn 5189/TCT-CS

Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Ngày 13/6/2019, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 với hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.

Ngày 19/10/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế, có hiệu lực thi hành từ ngày 5/12/2020.

Tổng cục Thuế giới thiệu các nội dung mới của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP và đề nghị các Cục Thuế khẩn trương tuyên truyền, phổ biến, thông báo cho cán bộ thuế và người nộp thuế trên địa bàn quản lý biết.

(Chi tiết nội dung cụ thể theo Phụ lục đính kèm).

Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các Cục thuế kịp thời tổng hợp, phản ảnh về Tổng cục Thuế để được nghiên cứu giải quyết./.

Nơi nhận:
– Như trên;
– Lãnh đạo Tổng cục Thuế;
– Các Vụ, đơn vị thuộc, trực thuộc TCT;
– Lưu: VT, CS (3).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Đặng Ngọc Minh

PHỤ LỤC Công văn 5189/TCT-CS

GIỚI THIỆU MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 126/2020/NĐ-CP NGÀY 19/10/2020 QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ THUẾ

(Kèm theo công văn số 5189/TCT-CS ngày 07/12/2020 của Tổng cục Thuế)

1. Về phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế áp dụng đối với việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước; trừ nội dung quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, áp dụng hóa đơn, chứng từ, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế và hóa đơn, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan (được quy định tại các Nghị định riêng theo Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 26/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ).

2. Về quản lý thuế đối với người nộp thuế trong thời hạn tạm ngừng hoạt động, kinh doanh

a) Về căn cứ xác định thời gian người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 4

Điểm mới 1: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế, Nghị định đã quy định đối với người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc diện đăng ký kinh doanh được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận, thông báo hoặc yêu cầu tạm ngừng hoạt động, kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn thì thời gian tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn thực hiện theo văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Cơ quan thuế không nhận văn bản đăng ký tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn của người nộp thuế mà nhận văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp gửi đến.

Trước đây: Tại Khoản 2 Điều 21 Thông tư số 95/2016/TT-BTC quy định thời gian tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn thực hiện theo văn bản đăng ký của người nộp thuế. Cơ quan thuế nhận văn bản đăng ký tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn của tất cả người nộp thuế.

Điểm mới 2: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Quản lý thuế. Nghị định đã quy định đối với người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc diện đăng ký kinh doanh thì nộp văn bản đăng ký tạm ngừng kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn cho cơ quan thuế chậm nhất là 01 ngày làm việc trước khi tạm ngừng hoạt động, kinh doanh hoặc hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn.

Trước đây: Tại Khoản 1 Điều 21 Thông tư số 95/2016/TT-BTC quy định thời gian là 15 ngày đối với tổ chức và 01 ngày làm việc đối với hộ gia đình, nhóm cá nhân, cá nhân kinh doanh.

Điểm mới 3: Bổ sung quy định thời gian giải quyết và trả kết quả tạm ngừng hoạt động, kinh doanh của cơ quan thuế cho người nộp thuế là tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không thuộc diện đăng ký kinh doanh.

Trước đây: Chưa có quy định này.

b) Về quản lý thuế đối với người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động, kinh doanh quy định tại Khoản 2 Điều 4

Điểm mới: Sửa đổi quy định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan thuế về quản lý thuế và quyền hạn và trách nhiệm của người nộp thuế về thực hiện nghĩa vụ thuế trong thời gian người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh.

Trước đây:

Tại Điều 14 Thông tư số 151/2014/TT-BTC sửa đổi điểm đ, Khoản 1, Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ (gọi chung là Thông tư số 156/2013/TT-BTC):

“đ) Người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh không phát sinh nghĩa vụ thuế thì không phải nộp hồ sơ khai thuế của thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh. Trường hợp người nộp thuế tạm ngừng kinh doanh không trọn năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn phải nộp hồ sơ quyết toán thuế năm…”

c) Bổ sung quy định người nộp thuế đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế không được đăng ký tạm ngừng hoạt động, kinh doanh khi cơ quan thuế đã có Thông báo về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký tại Khoản 4 Điều 4.

Trước đây: Áp dụng quy định của quản lý thuế đối với các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu (được gọi chung là thuế).

3. Quản lý thu các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước

Điểm mới: Căn cứ quy định về các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước tại khoản 2 (do cơ quan quản lý thuế quản lý thu), khoản 3 (không do cơ quan quản lý thuế quản lý thu) tại Điều 3 Luật quản lý thuế và quy định của Luật quản lý thuế giao Chính phủ căn cứ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan quy định việc áp dụng quy định quản lý khoản thu về thuế của Luật này để quản lý thu đối với các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước tại khoản 4 Điều 151 của Luật quản lý thuế, Nghị định đã quy định việc quản lý thu các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước tại Điều 5.

Trước đây: Chưa có quy định này.

4. Về đăng ký thuế

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về người nộp thuế là cá nhân khi thay đổi thông tin về giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hộ chiếu thì ngày phát sinh thông tin thay đổi là 20 ngày (riêng các huyện miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo là 30 ngày) kể từ ngày ghi trên giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hộ chiếu (Khoản 2 Điều 6).

Trước đây: Luật Quản lý thuế quy định thời hạn nộp hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế là 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thay đổi.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định trách nhiệm của người nộp thuế trong việc thực hiện các thủ tục về thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trước khi thay đổi địa chỉ trụ sở sang địa bàn cấp tỉnh khác là được chuyển số thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đã tạm nộp nhưng chưa đến thời hạn nộp hồ sơ khai quyết toán thuế để bù trừ với số phải nộp theo hồ sơ khai quyết toán thuế (Khoản 2 Điều 6).

Trước đây: Tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP không có quy định người nộp thuế được chuyển các khoản này.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định trách nhiệm của người nộp thuế trong việc thực hiện các thủ tục về thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi khôi phục mã số thuế, về nguyên tắc là phải hoàn thành đầy đủ số tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước với cơ quan thuế trực tiếp. Trường hợp người nộp thuế có số tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước còn nợ nhưng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ theo cam kết của người nộp thuế hoặc khoản tiền nợ đã được gia hạn nộp hoặc khoản tiền nợ không phải tính tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế thì người nộp thuế không phải hoàn thành nghĩa vụ nợ thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước khi khôi phục mã số thuế (Khoản 4 Điều 6).

Trước đây: Tại Điều 20 Thông tư số 95/2016/TT-BTC quy định người nộp thuế phải hoàn thành tất cả các khoản nợ thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước.

5. Về khai thuế, tính thuế

5.1. Về khai bổ sung hồ sơ khai thuế

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về khai bổ sung tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công thì đồng thời phải khai bổ sung tờ khai tháng, quý có sai, sót tương ứng (Điểm a Khoản 4 Điều 7).

Trước đây: Tại Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Trường hợp đã nộp hồ sơ khai quyết toán thuế năm thì chỉ khai bổ sung hồ sơ khai quyết toán thuế năm, không phải khai bổ sung tờ khai tháng, quý có sai, sót tương ứng.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định người nộp thuế chỉ được khai bổ sung tăng số thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn khi chưa nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế tiếp theo và chưa nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế (Điểm b Khoản 4 Điều 7).

Trước đây: Căn cứ các quy định tai Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn: Trường hợp chưa đến thời hạn khai thuế của kỳ tính thuế tiếp theo, người nộp thuế chưa nộp hồ sơ khai thuế để đưa số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau của kỳ tính thuế trước sang chỉ tiêu số thuế khấu trừ kỳ trước chuyển sang trên tờ khai chính thức của kỳ tính thuế tiếp theo và chưa nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế thì được khai bổ sung tăng chỉ tiêu đề nghị hoàn trên tờ khai bổ sung của kỳ tính thuế đó.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định người nộp thuế được nộp hồ sơ khai bổ sung cho từng hồ sơ khai thuế nếu phát hiện hồ sơ khai thuế lần đầu đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót nhưng chưa hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót (Khoản 4 Điều 7).

Trước đây: Tại Điểm a Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế.

5.2. Về khai thuế giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng từ hoạt động xổ số, sản xuất điện, hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân cho thuế tài sản)

Điểm mới 1: Bổ sung quy định người nộp thuế phải lập hồ sơ khai thuế GTGT riêng đối với khoản thu hộ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng (Điểm a, c, đ Khoản 2 Điều 7).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định người nộp thuế phải lập hồ sơ khai thuế GTGT riêng đối với từng dự án đầu tư thuộc diện được hoàn thuế giá trị gia tăng và nộp tại cơ quan thuế nơi có dự án đầu tư; đồng thời phải bù trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho từng dự án đầu tư với số thuế GTGT phải nộp (nếu có) của hoạt động, kinh doanh đang thực hiện cùng kỳ tính thuế.

Trường hợp Chủ dự án đầu tư giao Ban quản lý dự án và Chi nhánh tại địa phương cấp tỉnh khác địa phương nơi Chủ dự án đầu tư đóng trụ sở chính thay mặt Chủ dự án đầu tư trực tiếp quản lý một hoặc nhiều dự án đầu tư tại nhiều địa phương thì Ban quản lý dự án và Chi nhánh phải lập hồ sơ khai thuế riêng đối với từng dự án đầu tư nộp cho cơ quan thuế nơi có dự án đầu tư và phải bù trù số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư với số thuế GTGT phải nộp của tất cả các hoạt động kinh doanh cùng kỳ tính thuế của Chủ dự án đầu tư và Chi nhánh.

Khi dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp đã hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế giá trị gia tăng phát sinh, số thuế giá trị gia tăng đã hoàn, số thuế giá trị gia tăng chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành lập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

(Điểm d khoản 2 Điều 7 và điểm a khoản 1 Điều 11).

Trước đây:

– Điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP: Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới (trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán) tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào bù trừ với số thuế giá trị gia tăng phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính, sau khi bù trừ nếu số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này. Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng đối với dự án đầu tư.

– Tại Điểm c Khoản 3 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC và Khoản 3 Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC hướng dẫn:

“Người nộp thuế thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cùng nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Sau khi bù trừ nếu có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư mà chưa được bù trừ hết theo mức quy định của pháp luật về thuế GTGT thì được hoàn thuế giá trị gia tăng cho dự án đầu tư.

Người nộp thuế có dự án đầu tư thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi đóng trụ sở chính. Trường hợp người nộp thuế có dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế, thì người nộp thuế lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và nộp tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi đóng trụ sở chính. Trường hợp người nộp thuế có quyết định thành lập các Ban Quản lý dự án hoặc chi nhánh đóng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính để thay mặt người nộp thuế trực tiếp quản lý một hoặc nhiều dự án đầu tư tại nhiều địa phương, Ban Quản lý dự án, chi nhánh có con dấu theo quy định của pháp luật, lưu giữ sổ sách chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, có tài khoản gửi tại ngân hàng, đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế thì Ban Quản lý dự án, chi nhánh phải lập hồ sơ khai thuế riêng với cơ quan thuế địa phương nơi đăng ký thuế.

Khi dự án đầu tư để thành lập doanh nghiệp đã hoàn thành và hoàn tất các thủ tục về đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, cơ sở kinh doanh là chủ dự án đầu tư phải tổng hợp số thuế giá trị gia tăng phát sinh, số thuế giá trị gia tăng đã hoàn, số thuế giá trị gia tăng chưa được hoàn của dự án để bàn giao cho doanh nghiệp mới thành lập để doanh nghiệp mới thực hiện kê khai, nộp thuế và đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

Trường hợp người nộp thuế có dự án đầu tư và phải thực hiện bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện thì việc kê khai thuế giá trị gia tăng của dự án đầu tư theo tháng hay quý được thực hiện cùng với việc kê khai thuế giá trị gia tăng của trụ sở chính.”

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế GTGT trong trường hợp chỉ có hoạt động, kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, doanh nghiệp chế xuất chỉ có hoạt động xuất khẩu (Điểm a, c Khoản 3 Điều 7).

Trước đây:

Căn cứ quy định tại Thông tư số 156/2013/TT-BTC, Tổng cục Thuế có hướng dẫn: Trường hợp người nộp thuế chỉ sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT thì không phải kê khai, nộp thuế GTGT. Trường hợp nếu phát sinh bán hàng hóa dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT (ví dụ: thanh lý tài sản,..) thì người nộp thuế sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế và nộp thuế theo quy định.

Điểm mới 4: Sửa đổi quy định khai thuế GTGT theo quý đối với doanh thu của sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển có doanh thu trên 50 tỷ đồng/năm (Điều 9).

Trước đây:

Tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 21/2016/TT-BTC quy định: Người nộp thuế thực hiện khai thuế GTGT theo quý đối với Doanh thu của sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh Mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển (không phân biệt có doanh thu trên hay dưới 50 tỷ đồng/năm).

Điểm mới 5: Sửa đổi quy định rõ thuế giá trị gia tăng là loại thuế khai theo tháng, quý, từng lần phát sinh. Trường hợp người nộp thuế khai thuế theo tháng đủ điều kiện khai thuế theo quý thì được lựa chọn chuyển sang khai thuế theo quý hoặc tiếp tục khai thuế theo tháng. Thời kỳ khai thuế tháng/quý ổn định trọn năm dương lịch, trường hợp đang khai tháng đủ điều kiện khai quý và chuyển sang khai quý thì phải có văn bản gửi cơ quan thuế, trường hợp đang khai thuế GTGT theo quý phát hiện không đủ điều kiện khai theo quý thì không phải nộp lại hồ sơ khai thuế theo tháng của các quý trước đó nhưng phải nộp Bản xác định số tiền thuế phải nộp theo tháng tăng thêm so với số đã kê khai theo quý và phải tính tiền chậm nộp (Điều 9).

Trước đây:

– Tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP chỉ quy định về nguyên tắc áp dụng đối với người nộp thuế đáp ứng điều kiện có tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống.

– Tại Điều 15 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn: thời kỳ khai thuế tháng/quý ổn định trọn năm dương lịch và theo chu kỳ ổn định 3 năm, trường hợp đủ điều kiện khai quý nhưng muốn khai tháng thì phải có văn bản gửi cơ quan thuế, trường hợp đang khai thuế GTGT theo quý phát hiện không đủ điều kiện khai theo quý thì kể từ năm tiếp theo liền kề của năm phát hiện cho đến hết chu kỳ ổn định, người nộp thuế phải thực hiện khai thuế theo tăng.

Điểm mới 6: Sửa đổi quy định trường hợp người nộp thuế hạch toán tập trung tại trụ sở chính nhưng có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh tại đơn vị hành chính cấp tỉnh khác nơi có trụ sở chính thì người nộp thuế khai thuế tại trụ sở chính và tính thuế, phân bổ nghĩa vụ thuế phải nộp theo từng địa phương nơi được hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước (Khoản 2 Điều 11).

Trước đây:

– Tại Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC hướng dẫn: Trường hợp cơ sở sản xuất trực thuộc khác tỉnh không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu và không thực hiện hạch toán kế toán khai tập trung tại trụ sở chính nhưng phải tính phân bổ thuế phải nộp cho địa phương nơi đóng trụ sở.

– Tại Điểm b, c Khoản 11 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC và Điểm a Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC hướng dẫn: Khai thuế GTGT tại địa phương nơi phát sinh hoạt động đối với: hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng chuyển nhượng bất động sản vãng lai ngoại tỉnh (doanh thu dưới 1 tỷ đồng; trừ: dự án kinh doanh bất động sản, công trình liên tỉnh), Chủ dự án ODA thuộc diện không được hoàn thuế GTGT và Nhà thầu nước ngoài thực hiện dự án ODA thuộc diện được hoàn thuế GTGT (trừ trường hợp dự án liên tỉnh).

Điểm mới 7: Sửa đổi quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng đối với tất cả hoạt động chuyển nhượng bất động sản của dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng (bao gồm cả trường hợp có thu tiền ứng trước của khách hàng theo tiến độ) tại địa bàn cấp tỉnh khác với nơi người nộp thuế đóng trụ sở chính là cơ quan thuế nơi có hoạt động chuyển nhượng bất động sản (điểm b Khoản 1 Điều 11).

Trước đây: Tại điểm c Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Trường hợp người nộp thuế có dự án kinh doanh bất động sản ở địa phương cấp tỉnh khác nơi người nộp thuế có trụ sở chính, có thành lập đơn vị trực thuộc (chi nhánh, Ban quản lý dự án…) thì người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản với cơ quan thuế địa phương nơi phát sinh hoạt động kinh doanh bất động sản. Trường hợp người nộp thuế không thành lập đơn vị trực thuộc (chi nhánh, Ban quản lý dự án…) thì người nộp thuế khai và nộp thuế tại cơ quan thuế quản lý trụ sở chính.

Điểm mới 8: Sửa đổi quy định về hồ sơ khai thuế đối với từng phương pháp khai thuế GTGT, trong đó: bỏ Bảng kê thuế GTGT đã nộp vãng lai ngoại tỉnh mẫu số 01-5/GTGT và Thông báo chuyển đổi kỳ khai thuế GTGT từ quý sang tháng mẫu số 07/GTGT. Bổ sung Văn bản đề nghị thay đổi kỳ tính thuế từ tháng sang quý mẫu số 01/ĐK-TĐKTT và Bản xác định số tiền thuế phải nộp theo tháng tăng thêm so với số đã kê khai theo quý mẫu số 02/XĐ-PNTT (Danh mục hồ sơ khai thuế tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP)

Trước đây:

– Tại Điểm b Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP và Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP quy định hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý, lần phát sinh là Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý, lần phát sinh.

– Tại Điểm e Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 26/2015/TT-BTC hướng dẫn hồ sơ khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ tại trụ sở chính trong trường hợp có hoạt động vãng lai ngoại tỉnh phải bao gồm Bảng kê thuế GTGT đã nộp vãng lai ngoại tỉnh mẫu số 01-5/GTGT.

– Tại Điều 15 Thông tư số 151/2014/TT-BTC hướng dẫn trường hợp chuyển đổi kỳ tính thuế từ tháng sang quý phải có Thông báo chuyển đổi kỳ khai thuế GTGT từ quý sang tháng mẫu số 07/GTGT. Riêng Thông báo áp dụng phương pháp tính thuế GTGT mẫu số 06/GTGT đã bãi bỏ theo Thông tư số 93/2017/TT-BTC.

5.3. Về khai thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ thuế tiêu thụ đặc biệt từ hoạt động xổ số)

Điểm mới: Bổ sung hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt riêng cho cơ sở sản xuất, pha chế xăng sinh học (Danh mục hồ sơ khai thuế tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Theo quy định tại Nghị định số 14/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ chưa có quy định hồ sơ khai thuế riêng cho cơ sở sản xuất, pha chế xăng sinh học mà sử dụng chung với hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt chung của tất cả các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

5.4. Về khai thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí):

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, theo đó khai thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản theo làn phát sinh chỉ bắt buộc với người nộp thuế tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp tỷ lệ trên doanh thu theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp (Điểm e Khoản 4 Điều 8).

Trước đây: Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC quy định: Khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng lần phát sinh đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản áp dụng đối với doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh bất động sản và doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản nếu có nhu cầu.

Điểm mới 2: Sửa đổi quy định về nghĩa vụ tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý, theo đó tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm áp dụng bắt đầu từ kỳ tính thuế năm 2021. Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 03 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 03 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước (Điểm b Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Tại Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 91/2014/NĐ-CP và Điều 17 Thông tư 151/2014/TT-BTC quy định trường hợp tổng số bốn lần tạm nộp thấp hơn từ 20% trở lên so với số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán thì doanh nghiệp phải nộp lãi chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số tạm nộp với số quyết toán tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế quý bốn của doanh nghiệp đến ngày thực nộp số thuế còn thiếu so với số quyết toán.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định về tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người nộp thuế có thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng hoặc cho thuê mua, có thu tiền ứng trước của khách hàng theo tiến độ phù hợp với quy định của pháp luật thì tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý theo tỷ lệ 1% trên số tiền thu được (Điểm b Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC quy định: Doanh nghiệp tạm nộp thuế theo doanh thu trừ chi phí (nếu doanh nghiệp xác định được chi phí tương ứng với doanh thu đã ghi nhận) hoặc theo tỷ lệ 1% trên doanh thu thu được tiền (nếu doanh nghiệp chưa xác định được chi phí tương ứng với doanh thu).

Điểm mới 4: Bổ sung quy định về khai thuế thu nhập doanh nghiệp tại nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh có thu nhập được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp tại cơ quan thuế nơi có hoạt động kinh doanh khác tỉnh, thành phố nơi có trụ sở chính (Điểm h Khoản 1 Điều 11).

Trước đây: Tại Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC quy định: Người nộp thuế khai tập trung tại trụ sở chính cả phần phát sinh tại nơi có trụ sở chính và ở nơi có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc.

Điểm mới 5: Sửa đổi quy định công ty quốc phòng, an ninh thực hiện khai thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, cụ thể:

– Người nộp thuế tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý, nộp hồ sơ khai quyết toán năm và quyết toán đến thời điểm giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng hoặc tổ chức lại doanh nghiệp đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp công ty an ninh công ty Quốc phòng và nộp tiền vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

– Về hồ sơ khai quyết toán: Thực hiện theo quy định tại Điểm 7 Phụ Lục I ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

Trước đây: Tại Điểm b Khoản 2 mục II Thông tư liên tịch số 85/2005/TTLT/BTC-BCA ngày 26/9/2005; Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 206/2014/BTC-BQP ngày 24/12/2014 quy định:

– Các công ty an ninh thuộc Bộ Công an, công ty quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng (Công ty an ninh, quốc phòng) có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khác tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp và nộp về tài khoản của Bộ Công an, Cục Tài chính – Bộ Quốc phòng.

– Hàng quý, Cục Tài chính – Bộ Công an, Cục Tài chính – Bộ Quốc phòng lập bảng kê số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý của Công ty an ninh, quốc phòng gửi Tổng cục Thuế, đồng thời nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty an ninh, quốc phòng vào Kho bạc Nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế quản lý trực tiếp Công ty an ninh, quốc phòng.

– Hàng năm, Cục Tài chính – Bộ Công an, Cục Tài chính – Bộ Quốc phòng tổng hợp quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp gửi Tổng cục Thuế, đồng thời nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp sau quyết toán của Công ty an ninh, quốc phòng vào Kho bạc Nhà nước đồng cấp với Cơ quan thuế quản lý trực tiếp Công ty an ninh, quốc phòng. Thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp còn phải nộp sau quyết toán vào ngân sách nhà nước chậm nhất là ngày 30/6 năm tiếp theo.

Điểm mới 6: Bổ sung Phụ lục 03-3D/TNDN; 03-8A/TNDN; 03- 8B/TNDN; 03-8C/TNDN; 03-9/TNDN kèm theo Tờ khai quyết toán 03/TNDN (Danh mục hồ sơ khai thuế tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

5.5. Về khai thuế tài nguyên (trừ thuế tài nguyên từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí):

Điểm mới: Bổ sung quy định khai thác tài nguyên không thường xuyên đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoặc không thuộc trường hợp phải cấp phép theo quy định của pháp luật khai theo từng lần phát sinh (Điểm d khoản 4 Điều 8).

Trước đây: Chưa có quy định này.

5.6. Về khai các khoản thuế, khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí (Khai theo tháng tại điểm e khoản 1 Điều 8; Khai theo quý tại điểm đ khoản 1 Điều 8; Khai theo từng lần phát sinh tại điểm p, q, r, s khoản 4 Điều 8; Khai theo từng lần xuất bản tại khoản 5 Điều 8; Khai quyết toán tại điểm h khoản 6 Điều 8):

Điểm mới 1: Sửa đổi thời hạn kê khai, nộp thuế đối với một số trường hợp sau:

– Thời hạn khai, nộp khoản phụ thu và thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính từ tiền kết dư của phần dầu để lại của hoạt động dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày Hội đồng Liên doanh quyết định số tiền kết dư của phần dầu để lại theo Nghị quyết từng kỳ họp Hội đồng Liên doanh nhưng không chậm hơn ngày 31 tháng 12 hàng năm (Điểm r Khoản 4 Điều 8).

– Đối với các khoản thuế và khoản thu khác từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác khí thiên nhiên thuộc loại khai theo tháng: thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 44 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 (Điểm e Khoản 4 Điều 8).

Trước đây:

– Tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Thông tư số 176/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thời hạn khai, nộp khoản phụ thu và thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính từ tiền kết dư của phần dầu để lại của hoạt động dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 chậm nhất là ngày thứ 20 kể từ ngày Hội đồng Liên doanh quyết định số tiền kết dư của phần dầu để lại theo Nghị quyết từng kỳ họp Hội đồng Liên doanh nhưng không chậm hơn ngày 31 tháng 12 hàng năm.

– Tại Điểm b Khoản 1 Điều 12, Điểm b Khoản 1 Điều 20 Thông tư số 36/2016/TT-BTC và Điểm a Khoản 2 Điều 25 Thông tư số 176/2014/TT-BTC hướng dẫn thời hạn nộp hồ sơ khai, nộp thuế tạm tính đối với các khoản thuế và khoản thu khác từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác khí thiên nhiên chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo tháng xuất hóa đơn bán khí.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với các khoản thuế, khoản thu thuộc ngân sách nhà nước từ hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí: Người điều hành, doanh nghiệp liên doanh, công ty điều hành chung nộp hồ sơ khai thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước phát sinh từ hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế; Công ty mẹ – Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nộp hồ sơ khai các khoản thu thuộc ngân sách nhà nước phát sinh từ hoạt động dầu khí theo quy định của Chính phủ tại quy chế quản lý tài chính của Công ty mẹ – Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế (Khoản 5 Điều 11).

Trước đây:

– Tại Điều 4 Thông tư số 36/2016/TT-BTC ngày 26/2/2016 hướng dẫn địa điểm đăng ký thuế, khai, nộp các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác, xuất bán dầu thô, khí thiên nhiên (trừ Lô 09.1) và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng phần quyền lợi tham gia hợp đồng dầu khí;

– Tại Điều 4 Thông tư số 22/2010/TT-BTC ngày 12/2/2010 hướng dẫn địa điểm đăng ký thuế, khai, nộp phụ thu.

– Chưa có quy định về địa điểm đăng ký thuế, khai, nộp các khoản thuế đối với hoạt động khai thác, xuất bán dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại Lô 09.1 và các khoản tiền lãi dầu khí nước chủ nhà được chia, tiền hoa hồng dầu khí, tiền đọc và sử dụng tài liệu dầu khí.

5.7. Về khai thuế đối với khoản thu từ cổ tức, lợi nhuận được chia (Điểm t Khoản 4 Điều 8)

Điểm mới: Thay đổi thời hạn khai cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, địa phương làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước khi công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thực hiện chi trả cổ tức, lợi nhuận là từng lần phát sinh theo quy định của Luật Quản lý thuế (10 ngày kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ).

Trước đây: Tại Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 61/2016/TT-BTC ngày 11/4/2016 của Bộ Tài chính quy định thời hạn khai cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, địa phương làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước khi công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thực hiện chi trả cổ tức, lợi nhuận trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày có thông báo chia cổ tức, lợi nhuận của công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

5.8. Về khai khoản thu từ lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ (Điểm c Khoản 6 Điều 8)

Điểm mới: Sửa đổi quy định tổng số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ theo quyết toán năm áp dụng bắt đầu từ kỳ tính thuế năm 2021.

Trước đây: Tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 61/2016/TT-BTC quy định tổng số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đã tạm nộp của năm tài chính không thấp hơn 80% số lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp theo quyết toán năm.

5.9. Về khai thuế đối với hoạt động khai thác tài sản bảo đảm (Điểm b Khoản 5 Điều 7, Điểm b Khoản 2 Điều 8)

Điểm mới: Bổ sung quy định tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền phát sinh hoạt động khai thác tài sản bảo đảm (TSBĐ) trong thời gian chờ xử lý, tài sản bảo đảm vẫn thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp thì tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền thực hiện khai thuế theo quý đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể:

– Nộp tờ khai thuế thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động khai thác TSBĐ trong thời gian chờ xử lý theo mẫu số 01/TSBĐ (tại Danh mục hồ sơ khai thuế theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

– Bảng kê chi tiết thuế thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động khai thác TSBĐ trong thời gian chờ xử lý theo mẫu số 01/TC-TSBĐ (tại Danh mục hồ sơ khai thuế theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Chưa có quy định hồ sơ khai thuế riêng dành cho tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền khai thay người nộp thuế có tài sản bảo đảm mà khai thuế cùng với hoạt động kinh doanh của Tổ chức tín dụng hoặc bên thứ ba được tổ chức tín dụng ủy quyền.

5.10. Về khai thuế đối với hoạt động xổ số

Điểm mới 1: Bổ sung quy định người nộp thuế có nhiều hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán thì phải lập hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, lợi nhuận sau thuế riêng cho hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán (Điểm a Khoản 2 Điều 7).

Trước đây: Chưa quy định về nộp hồ sơ khai thuế riêng đối với hoạt động xổ số kiến thiết, xổ số điện toán.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định người nộp thuế có hoạt động kinh doanh xổ số điện toán phải nộp Bảng phân bổ số thuế phải nộp (nếu có) theo từng địa bàn cấp tỉnh nơi được hưởng nguồn thu ngân sách nhà nước cho cơ quan thuế quản lý trụ sở chính đối với thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của hoạt động xổ số điện toán (Khoản 2 Điều 11).

Trước đây: Quy định về phân bổ thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán thực hiện theo quy định tại Nghị định số 122/2017/NĐ-CP ngày 13/11/2017 quy định một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số; Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam; Thông tư số 01/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số.

Điểm mới 3: Bổ sung Phụ lục bảng phân bổ số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu 01-3/GTGT; Phụ lục bảng phân bổ số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu số 01-3/TTĐB; Phụ lục bảng phân bổ số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu 03-8C/TNDN; Phụ lục bảng phân bổ số lợi nhuận còn lại phải nộp cho các địa phương được hưởng nguồn thu đối với hoạt động kinh doanh xổ số điện toán mẫu 01-1/QT-LNCL (tại Danh mục hồ sơ khai thuế theo Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Mẫu biểu phân bổ đã được quy định tại công văn số 4311/TCT-DNL ngày 04/10/2014 của Tổng cục Thuế.

5.11. Về khai thuế đối với hoạt động sản xuất điện

Điểm mới: Sửa đổi quy định người nộp thuế có nhà máy sản xuất điện (áp dụng đối với các loại hình sản xuất điện) ở địa bàn tỉnh, thành phố khác nơi có trụ sở chính thực hiện nộp hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tại cơ quan thuế nơi có nhà máy sản xuất điện (điểm c Khoản 1 Điều 11).

Trước đây:

– Đối với hoạt động sản xuất thủy điện: Theo quy định tại Điều 23 Thông tư số 156/2013/TT-BTC thì cơ sở sản xuất thủy điện thực hiện khai thuế GTGT tại địa phương nơi đóng trụ sở chính và nộp thuế giá trị gia tăng vào kho bạc địa phương nơi có nhà máy sản xuất thủy điện.

– Đối với các hoạt động sản xuất điện khác, trừ thủy điện: Thực hiện theo quy định tại điểm d Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC, người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng tại trụ sở chính và nộp thuế giá trị gia tăng cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất theo tỷ lệ 2% trên doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng.

5.12. Về khai thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về người nộp thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu là thương nhân đầu mối, đơn vị phụ thuộc của thương nhân đầu mối, công ty con của thương nhân đầu mối và đơn vị phụ thuộc của thương nhân đầu mối, trong đó công ty con của thương nhân đầu mối được xác định theo quy định tại Luật Doanh nghiệp (bao gồm công ty con mà đơn vị đầu mối nắm cổ phần chi phối trên 50% hoặc công ty con mà thương nhân đầu mối có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó hoặc có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó nhưng tỷ lệ góp vốn của doanh nghiệp đầu mối thấp hơn 50%) (Khoản 4 Điều 11).

Trước đây: Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/07/2013 của Chính phủ; tại Điều 15 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính thì người nộp thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu là Công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối, chi nhánh của công ty đầu mối, đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc đơn vị đầu mối; các Công ty cổ phần do đơn vị đầu mối nắm cổ phần chi phối (trên 50% cổ phần) hoặc các Chi nhánh trực thuộc các đơn vị thành viên, các Chi nhánh trực thuộc các Công ty cổ phần.

Với quy định này, chỉ các công ty con mà đơn vị đầu mối nắm cổ phần chi phối trên 50% mới thuộc đối tượng phải khai, nộp thuế bảo vệ môi trường. Trường hợp một Công ty vẫn đáp ứng tiêu chí là công ty con của doanh nghiệp đầu mối theo quy định tại Luật Doanh nghiệp (như vẫn có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó hoặc có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó) nhưng tỷ lệ góp vốn của doanh nghiệp đầu mối thấp hơn 50% nên không thuộc đối tượng phải khai, nộp thuế bảo vệ môi trường.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định về phân bổ số thuế bảo vệ môi trường phải nộp đối với mặt hàng xăng dầu cho từng địa phương nơi có đơn vị phụ thuộc đóng trụ sở trong trường hợp thương nhân đầu mối hoặc công ty của thương nhân đầu mối có đơn vị phụ thuộc kinh doanh tại địa phương khác tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với nơi thương nhân đầu mối, công ty con của thương nhân đầu mối đóng trụ sở mà đơn vị phụ thuộc không hạch toán kế toán để khai riêng được thuế bảo vệ môi trường (Khoản 4 Điều 11).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Bổ sung Phụ lục bảng phân bổ số thuế bảo vệ môi trường phải nộp cho các địa phương nơi được hưởng nguồn thu đối với xăng dầu (tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Chưa có quy định này.

5.13. Về khai phí, lệ phí và các khoản thu khác do cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện thu quy định tại Điều 12

Điểm mới: Bổ sung quy định Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao được ủy quyền thực hiện kê khai phí, lệ phí và các khoản thu khác do các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thu được và nộp hồ sơ khai phí, lệ phí và các khoản thu khác cho cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính.

– Hồ sơ khai thuế, hồ sơ khai quyết toán thuế theo quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.

– Thời hạn nộp hồ sơ khai quý và quyết toán thuế theo quy định tại Điều 44 Luật Quản lý thuế.

Trước đây: Không có quy định Bộ Ngoại giao phải thực hiện nộp tờ khai theo quý, quyết toán năm đối với khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác do các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thu.

5.14. Về khai thuế thu nhập cá nhân và thuế, các khoản thu khác của hộ kinh doanh, cá nhân cho thuê tài sản

a) Về hồ sơ khai thuế:

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý thì vẫn phải khai thuế (điểm b Khoản 3 Điều 7).

Trước đây: Theo quy định tại điểm a.1 khoản 1 Điều 16 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập không phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý thì không phải khai thuế.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân thì cá nhân không trực tiếp khai thuế. Tổ chức có trách nhiệm khai thuế giá trị gia tăng đối với toàn bộ doanh thu của hoạt động hợp tác kinh doanh theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế của tổ chức mà không phân biệt hình thức phân chia kết quả hợp tác kinh doanh, đồng thời khai thay và nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân hợp tác kinh doanh. Trường hợp tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân là hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định tại khoản 5 Điều 51 Luật Quản lý thuế, mà cá nhân có ngành nghề đang hoạt động cùng với ngành nghề hợp tác kinh doanh với tổ chức thì tổ chức và cá nhân tự thực hiện khai thuế tương ứng với kết quả thực tế hợp tác kinh doanh theo quy định (Điểm c Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Căn cứ các quy định tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015, Thông tư số 39/2014/TT-BTC, Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn: Công ty TNHH Grab Taxi (công ty Grab Taxi hoạt động theo mô hình hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực vận tải) như sau: Công ty khi ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác (tổ chức, cá nhân) nhận phần doanh thu được chia từ hoạt động vận tải có trách nhiệm tính thuế giá trị gia tăng 10% trên doanh thu được chia, kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu được chia. Đối với phần doanh thu của đối tác là cá nhân: Công ty khấu trừ thuế giá trị gia tăng 3%, thuế thu nhập cá nhân 1,5% đồng thời khai và nộp thuế thay cho cá nhân; Đối với phần doanh thu của đối tác là tổ chức: Tùy vào phương pháp kê khai thuế giá trị gia tăng của đối tác (trực tiếp, khấu trừ), Công ty có trách nhiệm lập hóa đơn tương ứng; căn cứ vào thực tế hợp đồng hợp tác, Công ty sẽ phân chia doanh thu cho đối tác để Công ty và đối tác kê khai thuế theo quy định.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định về tổ chức khai thuế thay và nộp thuế thay cho cá nhân nhận cổ tức bằng chứng khoán; cá nhân là cổ đông hiện hữu nhận thưởng bằng chứng khoán; cá nhân được ghi nhận phần vốn tăng thêm do lợi tức ghi tăng vốn; cá nhân góp vốn bằng bất động sản, phần vốn góp, chứng khoán. Thời điểm khai thuế thay và nộp thuế thay được hiện khi cá nhân phát sinh chuyển nhượng chứng khoán cùng loại, chuyển nhượng vốn, rút vốn (Điểm d Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Tại Khoản 9, 10 Điều 26 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định: Cá nhân nhận cổ tức bằng chứng khoán; cá nhân là cổ đông hiện hữu nhận thưởng bằng chứng khoán; cá nhân được ghi nhận phần vốn tăng thêm do lợi tức ghi tăng vốn; cá nhân góp vốn bằng bất động sản, phần vốn góp, chứng khoán thì phải trực tiếp khai và nộp thuế thu nhập cá nhân. Thời điểm cá nhân trực tiếp khai được thực hiện khi cá nhân phát sinh chuyển nhượng chứng khoán cùng loại, chuyển nhượng vốn, rút vốn thì phải trực tiếp khai và nộp thuế thu nhập cá nhân.

Điểm mới 4: Bổ sung quy định đối với tổ chức chi trả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền khác cho cá nhân là các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thì tổ chức có trách nhiệm khai thuế thay và nộp thuế thay cho cá nhân theo quy định (Điểm đ Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Để xử lý vướng mắc, căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015, Tổng cục Thuế ban hành một số công văn tạm thời hướng dẫn tổ chức không khấu trừ thuế, không phải khai thay, nộp thay thuế cho cá nhân trong trường hợp chiết khấu thương mại.

Điểm mới 5: Sửa đổi quy định bên mua bất động sản mà trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán (trừ trường hợp được miễn thuế, không phải nộp thuế hoặc tạm thời chưa phải nộp thuế) thì bên mua có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho bên bán theo quy định (Điểm g Khoản 5 Điều 7).

Trước đây: Tại khoản 11 Điều 2 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định trong hợp đồng chuyển nhượng có thỏa thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì bên mua có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay cho bên bán, không loại trừ trường hợp được miễn thuế, không phải nộp thuế hoặc tạm thời chưa phải nộp thuế.

b) Về các loại thuế khai theo tháng, khai theo quý, khai theo năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế và khai quyết toán thuế quy định tại Điều 8

Điểm mới 1:

Sửa đổi quy định về tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công có phát sinh khấu trừ thuế thu nhập cá nhân thực hiện khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng. Trường hợp tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập đủ điều kiện khai thuế giá trị gia tăng theo quý thì được lựa chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo quý (Điểm a Khoản 1 Điều 8).

Trước đây: Tại Điểm a.2 Khoản 1 Điều 16 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phát sinh số thuế khấu trừ trong tháng của ít nhất một loại tờ khai thuế thu nhập cá nhân từ 50 triệu đồng trở lên khai thuế theo tháng, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khai thuế giá trị gia tăng theo quý.

Điểm mới 2:

Sửa đổi quy định về cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện trực tiếp khai thuế được tự lựa chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng hoặc quý (Điểm a, c Khoản 1 Điều 8).

Trước đây: Tại Khoản 3 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC quy định: Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý.

Điểm mới 3:

Sửa đổi quy định về ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân là người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc tổ chức cũ và tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả và thu lại chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân do tổ chức cũ đã cấp cho người lao động (nếu có) (Điểm d.1 Khoản 6 Điều 8).

Trước đây: Tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC chỉ quy định người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới do tổ chức cũ thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả. Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn người lao động được điều chuyển từ tổ chức cũ đến tổ chức mới trong cùng một hệ thống thì tổ chức mới có trách nhiệm quyết toán thuế theo ủy quyền của cá nhân đối với cả phần thu nhập do tổ chức cũ chi trả.

c) Về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế quy định tại Điều 11

Điểm mới 1: Bổ sung quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với cá nhân có thu nhập từ việc cho thuê bất động sản tại nước ngoài tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi cá nhân cư trú (Điểm g khoản 6 Điều 11).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Bổ sung khái niệm nhà ở, nhà ở thương mại bao gồm cả công trình xây dựng, nhà ở đã được dự án bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật về nhà ở (Điểm đ.2 Khoản 6 Điều 11).

Trước đây: Khái niệm nhà ở, nhà ở thương mại được quy định tại văn bản pháp luật về nhà ở (Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở).

Điểm mới 3: Bổ sung quy định địa điểm nộp hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập tiền lương, tiền công tại hai nơi trở lên trong trường hợp vừa có thu nhập thuộc diện khai trực tiếp, vừa có thu nhập do tổ chức chi trả đã khấu trừ thì cá nhân nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế nơi có nguồn thu nhập lớn nhất trong năm (Điểm b.1 Khoản 7 Điều 11).

Trước đây: Tại Khoản 3 Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC quy định: Các trường hợp có thu nhập từ hai nơi trở lên (không phân biệt trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện tự khai đồng thời có thu nhập thuộc diện khấu trừ tại nguồn) thì nơi nộp hồ sơ quyết toán được xác định theo theo nơi tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân, trường hợp không nơi nào tính giảm trừ cho bản thân thì xác định theo Chi cục Thuế nơi cá nhân cư trú.

d) Về các trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế, thông báo nộp thuế quy định tại Điều 13

Điểm mới 1: Bỏ thủ tục Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn, cá nhân có thu nhập từ nhận cổ tức bằng cổ phiếu, lợi tức ghi tăng vốn khi chuyển nhượng (Khoản 1, 2 Điều 13).

Trước đây: Tại Phụ lục 02 Danh mục mẫu biểu đối với cá nhân kinh doanh và mẫu biểu đối với thuế thu nhập cá nhân ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính quy định: Cơ quan thuế phải thông báo tiền thuế phải nộp đối với các trường hợp cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn, cá nhân có thu nhập từ nhận cổ tức bằng cổ phiếu, lợi tức ghi tăng vốn khi chuyển nhượng.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định cơ quan thuế khi nhận được hồ sơ khai thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản của người nộp thuế có trách nhiệm gửi văn bản theo Mẫu 01/CCTT-TĐMN ban hành kèm theo Phụ lục II Nghị định 126/2020/NĐ-CP đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin địa chính làm căn cứ ban hành thông báo nộp tiền gửi cho người nộp thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ khai thuế của người nộp thuế (Điểm c khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan thuế có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, bổ sung thông tin đối với trường hợp cơ quan thuế tiếp nhận phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quyết định, thông báo, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp pháp, không đầy đủ theo quy định (Khoản 8 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

5.15. Về khai, tính, ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất

Điểm mới 1: Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc quản lý thuế đối với tiền sử dụng đất phát sinh trong khu kinh tế, khu công nghệ cao sau khi nhận được Thông báo nộp tiền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm đôn đốc người nộp thuế nộp tiền vào NSNN đúng thời hạn, số tiền ghi trên thông báo; tính tiền chậm nộp, cưỡng chế nợ theo quy định của Luật Quản lý thuế (nếu có) và tổng hợp đầy đủ số thu tiền sử dụng đất vào báo cáo thu NSNN (Điểm b Khoản 12 Điều 13).

Trước đây: Chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Sửa đổi các mẫu thông báo nộp tiền sử dụng đất để áp dụng cho trường hợp được gia hạn, không được gia hạn, trường hợp thông báo lần đầu hoặc bổ sung, điều chỉnh (Khoản 13 Điều 13 và Phụ lục II kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP).

Trước đây: Tại Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định mẫu số 01 Thông báo nộp tiền sử dụng đất và không phân biệt trường hợp được gia hạn, không được gia hạn, trường hợp thông báo lần đầu hoặc bổ sung, điều chỉnh.

Điểm mới 3: Sửa đổi quy định về ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước (điểm b Khoản 6 Điều 10).

– Trường hợp được Nhà nước giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất là ngày quyết định giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm văn phòng đăng ký đất đai gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế.

Trước đây:

– Tại khoản 4a Điều 24 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP quy định: “Ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật”.

– Tại khoản 4a Điều 18 Thông tư số 156/2013/TT-BTC quy định: “Ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đối với trường hợp tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án là ngày quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành. Trường hợp thời điểm bàn giao đất không đúng với thời điểm ghi trong quyết định giao đất thì ngày phát sinh nghĩa vụ với ngân sách nhà nước là ngày bàn giao đất thực tế”.

Điểm mới 4: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan tài chính phải xác định các khoản mà người nộp thuế được trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp gửi cơ quan thuế chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến (Điểm b khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 5: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan thuế có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, bổ sung thông tin đối với trường hợp cơ quan thuế tiếp nhận phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quyết định, thông báo, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp pháp, không đầy đủ theo quy định (Khoản 8 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

5.16. Về khai, tính, ban hành thông báo nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước

Điểm mới 1: Bổ sung quy định thời hạn nộp hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước trường hợp chưa có quyết định cho thuê, hợp đồng cho thuê đất, thuê mặt nước: thời hạn nộp hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày sử dụng đất vào mục đích thuộc đối tượng phải thuê đất, thuê mặt nước (điểm b Khoản 5 Điều 10).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 2: Bổ sung quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với trường hợp trong năm có sự thay đổi các yếu tố để xác định nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất, thuê mặt nước tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo cơ chế một cửa liên thông nơi có đất thuộc đối tượng chịu thuế (điểm d, Khoản 7 Điều 11).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 3: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan tài chính phải xác định các khoản mà người nộp thuế được trừ vào tiền thuê đất, thuê mặt nước phải nộp gửi cơ quan thuế chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai chuyển đến (Điểm b Khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 4: Bổ sung quy định cơ quan thuế khi nhận được hồ sơ khai tiền thuê đất, thuê mặt nước của người nộp thuế có trách nhiệm gửi văn bản theo Mẫu 01/CCTT-TĐMN ban hành kèm theo Phụ lục II Nghị định 126/2020/NĐ-CP đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin địa chính làm căn cứ ban hành thông báo nộp tiền thuê mặt đất, mặt nước gửi cho người nộp thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ khai thuế của người nộp thuế (Điểm c Khoản 6 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 5: Bổ sung quy định thời hạn cơ quan thuế có văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, bổ sung thông tin đối với trường hợp cơ quan thuế tiếp nhận phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, quyết định, thông báo, văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không hợp pháp, không đầy đủ theo quy định (Khoản 8 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 6: Bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc quản lý thuế đối với tiền thuê đất, thuê mặt nước phát sinh trong khu kinh tế, khu công nghệ cao sau khi nhận được Thông báo nộp tiền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm đôn đốc người nộp thuế nộp tiền vào NSNN đúng thời hạn, số tiền ghi trên thông báo; tính tiền chậm nộp, cưỡng chế nợ theo quy định của Luật Quản lý thuế (nếu có) và tổng hợp đầy đủ số thu vào báo cáo thu NSNN (Điểm b Khoản 12 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

5.17. Về khai, tính, ban hành thông báo nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Điểm mới 1: Sửa đổi quy định về địa điểm tiếp nhận hồ sơ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ khai thuế tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại cơ chế một cửa liên thông nơi có đất thuộc đối tượng chịu thuế. Trường hợp cơ chế một cửa liên thông không có quy định thì nộp hồ sơ đến cơ quan thuế nơi có đất thuộc đối tượng chịu thuế” (điểm a1 Khoản 7 Điều 11).

Trước đây:

– Điều 18 Thông tư số 156/2013/TT-BTC:

+ Tại Điểm c.1 Khoản 1 quy định: Người nộp thuế là tổ chức thực hiện kê khai và nộp hồ sơ khai thuế tại Chi cục Thuế nơi có đất chịu thuế.

+ Tại Điểm c.2 Khoản 1 quy định: Người nộp thuế là hộ gia đình, cá nhân thực hiện kê khai và nộp hồ sơ khai thuế tại UBND cấp xã hoặc Chi cục Thuế nơi có đất chịu thuế hoặc tại tổ chức, cá nhân được cơ quan thuế ủy quyền theo quy định của pháp luật tương ứng theo từng trường hợp cụ thể.

+ Tại Điểm b.3 Khoản 1 quy định: Người nộp thuế thuộc diện phải kê khai tổng hợp thì phải nộp tờ khai tổng hợp tại Chi cục Thuế nơi người nộp thuế đã chọn và đăng ký.

– Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT quy định hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính bao gồm “Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tương ứng với từng trường hợp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế (bản chính)”.

Điểm mới 2: Sửa quy định Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm xác nhận thông tin khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo đề nghị của người nộp thuế hoặc của cơ quan quản lý thuế (Điểm c7 Khoản 11 Điều 13).

Trước đây: Tại Điểm b.1 Khoản 1 Điều 18 Thông tư số 156/2013/TT-BTC:

– Đối với hồ sơ khai thuế đất ở của hộ gia đình, cá nhân, UBND cấp xã xác định các chỉ tiêu tại phần xác định của cơ quan chức năng trên tờ khai và chuyển cho Chi cục Thuế để làm căn cứ tính thuế.

– Đối với hồ sơ khai thuế của tổ chức, trường hợp cần làm rõ một số chỉ tiêu liên quan làm căn cứ tính thuế theo đề nghị của cơ quan Thuế, cơ quan Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xác nhận và gửi cơ quan Thuế.

Điểm mới 3: Bổ sung thời gian xác nhận thông tin khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho người nộp thuế của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của người nộp thuế hoặc của cơ quan quản lý thuế (Điểm c7 Khoản 11 Điều 13).

Trước đây: chưa có quy định này.

Điểm mới 4: Bổ sung Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng đối với hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất mẫu số 04/TK-SDDPNN theo Danh mục tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP.

Trước đây: chưa có quy định này.

…………………………..

Mời các bạn tham khảo nội dung chi tiết của công văn tại file dưới đây!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button